Đây là bài diễn văn đầy cảm hứng và quan trọng của Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Chủ tịch Phân bộ thứ II của Bộ Loan báo Tin Mừng, trong Đại hội Truyền giáo Á châu lần thứ II với chủ đề “Cuộc đại hành hương hy vọng” diễn ra tại Penang, Malaysia, ngày 27/11/2025.Qua bài diễn văn này, Đức Hồng y Tagle đã khai mạc Đại hội và kêu gọi mạnh mẽ để Giáo hội châu Á trở thành “những người hành hương hy vọng mới”, nhắc nhở các tín hữu rằng hy vọng thực sự không dựa trên sự lạc quan mà dựa trên ân sủng của Chúa và câu chuyện biến đổi của Chúa Giêsu. Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ bài diễn văn của Đức Hồng y.
* * * * *
Trước hết, tôi xin cảm ơn Liên đoàn các Hội đồng Giám mục châu Á (FABC), đặc biệt là Văn phòng Truyền giáo của FABC, đã tổ chức cuộc hành hương hy vọng này cho các dân tộc châu Á trong Năm Thánh 2025. Khi tôi thông báo với Đức Giáo hoàng Lêô XIV về việc tôi đến tham dự hội nghị này, Ngài đã nói: “Xin chào và ban phước lành cho tất cả mọi người!” Tôi cũng gửi đến anh chị em lời chào nồng nhiệt từ Bộ Loan báo Tin mừng, Phân Bộ về Loan báo Tin mừng đầu tiên và các Giáo hội địa phương mới.
Thật là một ân sủng, một phước lành cho tôi khi được mời đọc diễn văn quan trọng đầu tiên tại cuộc họp mang tính hiệp hành này. Năm 2006, tại Đại hội Truyền giáo Á châu lần thứ nhất ở Chiang Mai, Thái Lan, tôi được yêu cầu đọc diễn văn quan trọng với chủ đề “Truyền giáo tại châu Á: Kể câu chuyện về Chúa Giêsu”. Khi đó, tôi còn là một giám mục trẻ hơn nhiều, và vô cùng lo lắng khi đọc diễn văn. Ai mà không run sợ trước vị Tổng trưởng sắp mãn nhiệm của Bộ Truyền giáo lúc bấy giờ, Đức Hồng y Crescenzio Sepe, và vị Tổng trưởng mới nhậm chức, Đức Hồng y Ivan Dias, khi cả hai đều có mặt! Giờ đây, khi đứng trước mặt quý vị, tôi vẫn còn lo lắng, hoặc có lẽ còn lo lắng hơn. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn tiếp tục kể câu chuyện về Chúa Giêsu cho châu Á và cho thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy mệt mỏi khi kể câu chuyện của Người. Chúa Giêsu vừa là người kể chuyện, vừa là câu chuyện biến đổi câu chuyện của những con người, cộng đồng, tội nhân, những người bị ruồng bỏ, thực sự là của thế giới.
Tiêu đề bài diễn văn được giao cho tôi hôm nay là: “Đi theo một con đường khác như những người hành hương của Hy vọng được đổi mới”. Bài diễn văn này tiếp nối chủ đề chung của Đại hội FABC 50 được tổ chức tại Bangkok năm 2022, đó là “Cùng nhau hành trình như những dân tộc châu Á… và họ đã đi theo một con đường khác” (Mt 2:12). Đoạn Kinh thánh trong Matthêu đề cập đến việc các nhà thông thái trở về quê hương sau khi được chiêm ngưỡng và tôn thờ Chúa Giêsu, vị Vua mới. Nhưng được thôi thúc bởi một giấc mơ, họ đã đi theo một con đường khác, thay vì quay trở lại với Hêrôđê. Giống như các nhà thông thái, các dân tộc châu Á được mời gọi đi theo một con đường khác như những người hành hương của Hy vọng. Nhưng chúng ta nên làm như vậy theo sự thôi thúc của những giấc mơ thánh thiện, chứ không phải bởi mong muốn trốn thoát.
Bài phát biểu của tôi gồm hai phần, tương ứng với hai phần của chủ đề được giao cho tôi.
Phần thứ nhất.
Trước tiên, chúng ta hãy cùng suy ngẫm về phần thứ hai của tựa đề: “Những người hành hương hy vọng được đổi mới”. Để trở thành những người hành hương hy vọng đích thực, chúng ta nên là những người mang câu chuyện về Chúa Giêsu. Qua lời nói, hành động, mối quan hệ và con người Kitô hữu, chúng ta trở thành những câu chuyện sống động về hy vọng trong Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ thể hiện cách câu chuyện về Chúa Giêsu đã định hướng cuộc đời chúng ta, và viết nên những câu chuyện mới về đức tin, hy vọng và tình yêu.
Tôi xin nhắc lại với tất cả chúng ta rằng chúng ta đang đối diện với niềm hy vọng Kitô giáo. Nó không chỉ là sự lạc quan hay niềm tin rằng mọi việc sẽ tốt đẹp. Nó không phải là suy nghĩ viển vông hay phủ nhận khó khăn. Nó chắc chắn không phải là sự trốn tránh thực tế khắc nghiệt và những thử thách của cuộc sống. Tôi nhận thấy một sự nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa khi chúng ta dùng từ “hy vọng” thay vì “ước mong”. Một số bạn có thể đang nghĩ, “Tôi hy vọng chúng ta có rượu cho bữa tối nay”. Nhưng có lẽ đúng hơn nên nói, “Tôi ước mong chúng ta có rượu cho bữa tối nay”. Từ niềm hy vọng Kitô giáo là một đức tính thần học, được ân sủng của Thiên Chúa thấm nhuần trong chúng ta và có Thiên Chúa là đối tượng của nó. Đối tượng của nó không phải là một điều gì đó mà là một Đấng, Thiên Chúa nhập thể trong Chúa Giêsu Kitô. Trở lại với bài tập ngữ nghĩa của chúng ta, tôi nghĩ, thay vì an ủi một người bệnh bằng những lời, “Tôi hy vọng bạn sẽ sớm khỏe lại”, thì nên nói, “Tôi hy vọng vào Thiên Chúa để bạn được chữa lành”. Vẻ đẹp của niềm hy vọng Kitô giáo nằm ở chỗ, bởi vì Thiên Chúa trong Chúa Giêsu vừa là nguồn gốc vừa là mục tiêu của niềm hy vọng Kitô giáo, nên niềm hy vọng Kitô giáo mang tính nhân văn sâu sắc. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1818, mô tả đức cậy Kitô giáo như sau: “Đức cậy đáp ứng khát vọng hưởng vinh phúc mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim mỗi người; đảm nhận những sự mong đợi đang gợi hứng cho các hoạt động của con người; thanh luyện những mong đợi đó để quy hướng chúng về Nước trời; bảo vệ khỏi sự nản chí của tâm hồn; nâng đỡ khi bị bỏ rơi; mở rộng trái tim bằng sự mong đợi vinh phúc vĩnh cửu. Sự thúc đẩy của đức cậy gìn giữ chúng ta khỏi tính ích kỷ và đưa chúng ta đến với vinh phúc cua đức mến.”
Vậy nên, niềm hy vọng Kitô giáo được xây dựng, thanh lọc và điều chỉnh ba khát vọng của con người trong việc hướng đến: niềm hạnh phúc, sự kiên trì trong những lúc thử thách và lòng bác ái đích thực. Nhiều người bị đánh lừa bởi những hình ảnh sai lầm về hạnh phúc thường gắn liền với việc tích lũy tiền bạc, quần áo đắt tiền, nhà cửa, trang sức và đồ dùng tiện ích. Thật không may, một số sinh viên hoàn thành các yêu cầu học tập không phải bằng cách học tập kiên trì mà bằng cách gian lận. Trong các chiến dịch tranh cử, một số ứng cử viên đưa ra nhiều hình thức hỗ trợ cử tri, không phải vì tình yêu thương mà để giành được phiếu bầu của họ. Vì vậy, không phải là lòng bác ái mà là sự ích kỷ ẩn sau những hành động tốt đẹp bên ngoài. Tất cả những ví dụ này đều dẫn đến sự trống rỗng và tuyệt vọng. Để xác định xem tôi có đang sống đức cậy hay không, tôi nên tự hỏi những câu hỏi sau: Điều gì mang lại cho tôi hạnh phúc? Nguồn gốc của sự kiên trì của tôi là gì? Tình yêu của tôi trong sáng đến mức nào? Hành trình cuộc đời hay cuộc hành hương của tôi được thúc đẩy bởi hy vọng và hướng đến hy vọng như thế nào? Chúng có hướng đến Chúa Giêsu và Vương quốc của Ngài không?
Phần thứ hai.
Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang phần đầu tiên trong tiêu đề bài diễn văn của tôi: “Đi một con đường khác”, một khía cạnh quan trọng trong cuộc hành hương của các nhà thông thái, cuộc hành hương hy vọng của họ.
Câu chuyện về các nhà thông thái thực chất là câu chuyện về Chúa Giêsu, Đấng là Ánh Sáng hay Ngôi Sao, là Đường hay Con Đường dẫn đến Sự Sống. Chúa Giêsu kêu gọi và quy tụ những con người từ nhiều quốc gia và nền văn hóa khác nhau, dẫn dắt họ đến với Người và Vương quốc của Người. Cuộc hành hương của các nhà thông thái là một câu chuyện kinh điển về hy vọng. Đó là câu chuyện về cách ánh sáng của Chúa Giêsu tạo nên một cuộc hành hương gồm nhiều giai đoạn khác nhau, đòi hỏi sự sáng suốt, kiên nhẫn và mục tiêu rõ ràng.
Câu chuyện về các nhà thông thái với Chúa Giêsu cũng diễn ra trong sự tương tác với một câu chuyện khác, câu chuyện về Hêrôđê. Câu chuyện của họ đan xen vào nhau. Câu chuyện của họ tiết lộ những kiểu hành hương khác nhau: có hoặc không có Chúa Giêsu, hướng tới hoặc chống lại Chúa Giêsu. Câu chuyện của họ thể hiện sự tương phản giữa một cuộc hành hương của hy vọng và một cuộc hành hương của tuyệt vọng. Tôi muốn tập trung vào sự hội tụ phức tạp này giữa câu chuyện về các nhà thông thái với câu chuyện về Hêrôđê, trong câu chuyện về Chúa Giêsu. Tôi phải nói rằng các nhà thông thái đã đi một con đường khác không chỉ ở cuối mà ngay từ đầu cuộc hành hương của họ. Ngay từ đầu, các nhà thông thái đã đi một con đường khác với con đường của Hêrôđê. Các nhà thông thái đã chọn con đường hy vọng, hoàn toàn khác với con đường tuyệt vọng của Hêrôđê. Hãy để tôi chỉ ra ít nhất ba yếu tố trong câu chuyện của họ.
a/ Yếu tố đầu tiên: các nhà thông thái đến từ phương Đông. Người Do Thái xếp họ vào hàng ngũ dân ngoại. Một số chuyên gia cho rằng họ thuộc đẳng cấp tư tế, những người khác nói họ là pháp sư chuyên xử lý linh hồn và giấc mơ, những người khác lại nói họ là nhà chiêm tinh, chuyên gia đọc bầu trời và các vì sao. Họ hẳn đã tiếp xúc với tư tưởng và giáo lý Do Thái giáo để biết về sự ra đời của một vị Vua mới của người Do Thái. Kiến thức “cơ bản” về lời tiên tri này được bổ sung bằng khả năng đọc các vì sao của họ. Mỗi người đều có một vì sao, đó là niềm tin của người xưa. (Điều này không có nghĩa là mỗi người đều là một vì sao! Mà đúng hơn là mỗi người đều có một vì sao!) Việc đọc về sự sáng tạo với một số kiến thức về Kinh thánh hoặc Lời Chúa đã thúc đẩy cuộc hành hương của họ. Điểm đến của họ là vị Vua mới mà họ muốn tôn thờ. Họ ngước nhìn lên những vì sao, vượt ra ngoài bản thân họ, lắng nghe tiếng vọng, tiếng thì thầm của những vị tiên tri mà họ không biết.
Còn Hêrôđê thì sao? Ông ta chẳng hề nhúc nhích. Tại sao ông ta phải di chuyển? Ông ta có quyền lực. Quyền lực cho ông ta sức nặng, khiến ông ta khó di chuyển. Ông ta không cần phải di chuyển nhưng ông ta lại khiến người khác di chuyển. Ông ta sẽ giữ cho quyền lực của mình ổn định và bất biến. Việc tìm kiếm vị Vua mới sẽ không bao giờ xuất hiện trong tâm trí ông ta. Suy cho cùng, ông ta là vua. Nếu Hêrôđê thực hiện một cuộc hành hương, đó sẽ là một hành trình hướng về chính mình. Nhưng thực ra đó không phải là di chuyển mà là trì trệ, sự thối nát chậm chạp hướng đến cái chết. Chỉ nhìn vào bản thân, ông ta trở nên mù quáng trước thụ tạo và điếc với Kinh thánh.
Hỡi anh chị em, chúng ta còn ngắm nhìn những vì sao, bầu trời, đồi núi, cây cối, sông ngòi và nhìn ngắm nhau không? Chúng ta còn thời gian để nhìn ngắm, chiêm ngưỡng và lắng nghe không? Chúng ta có còn bận tâm không? Hay chúng ta chỉ mải mê với các thiết bị điện tử và những mối bận tâm cá nhân? Nhưng ngay cả khi chúng ta cố gắng nhìn ngắm thụ tạo, liệu chúng ta còn thấy được những vì sao hay chúng đã bị che mờ bởi sương khói? Liệu còn cây cối, đồi núi và sông ngòi để chiêm ngưỡng? Hay chỉ là những tượng đài của những vương quốc giả tạo hứa hẹn sự tiến bộ và thịnh vượng, nhưng thực chất lại mang đến sự chết chóc qua sự tha hóa? Nếu không có thụ tạo, làm sao chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện của Đấng Tạo Hóa và Vua đích thực của vũ trụ?
b/ Yếu tố thứ hai. Cuộc hành hương của các nhà thông thái bao gồm việc chấp nhận sự thiếu hiểu biết của mình. Việc xem sao và nghe những lời tiên tri sơ sài là không đủ để hoàn thành cuộc hành hương. Vì vậy, họ đã đến Giêrusalem để tìm hiểu, điểm đến linh thiêng của những cuộc hành hương của người Do Thái sùng đạo. Cuộc hành hương hy vọng của các nhà thông thái cần sự khiêm nhường, sẵn sàng học hỏi từ người khác và được người khác chỉ dạy. Nếu mục tiêu của họ là đến gặp vị Vua mới đã được tiên báo, thì không có nơi nào tốt hơn để tìm hiểu hơn là Giêrusalem, nơi cư ngụ thường xuyên của các thượng tế, kinh sư và các phong trào tôn giáo khác như người Pharisiêu và người Sađốc. Các nhà chiêm tinh, thường được gọi là những nhà thông thái, là những người biết tham khảo và lắng nghe. Sự khôn ngoan đích thực không nằm ở những người giả vờ đã biết tất cả mọi thứ. Các bạn ơi, các bạn có nghe thấy tiếng vọng của Công đồng và cuộc đối thoại trong Thánh Thần không?
Còn Hêrôđê, triều đình và Kinh thành của ông thì sao? Hêrôđê được bao quanh bởi những chuyên gia am hiểu Luật pháp và các tiên tri nhưng lại không bị ảnh hưởng bởi những gì họ biết. Những gì họ biết về Kinh thánh không lay chuyển được họ. Đây là một trường hợp khác của sự bất động. Sự trì trệ của Hêrôđê đã lây lan. Vậy những chuyên gia này đang làm gì trong triều đình? Liệu họ chỉ là những vật trang trí để tô điểm thêm vẻ hào nhoáng của quyền lực hoàng gia? Thật là lãng phí tài năng và ân sủng! Đến thời đại của chúng ta, chúng ta may mắn có được các chương trình đào tạo về quản lý mục vụ, thấm nhuần tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong việc quản lý tài sản và của cải. Nhưng tôi thường tự hỏi liệu họ có dạy cách sử dụng, như những người quản lý tốt, những ân sủng đa dạng của Chúa Thánh Thần trong cộng đồng của chúng ta hay không. Ân sủng bị lãng phí khi chúng bị bỏ qua và không được phát triển. Nhưng chúng cũng bị lãng phí khi chúng không được sử dụng đúng mục đích mà Chúa Thánh Thần đã ban cho. Trong câu chuyện của Hêrôđê, ông đã kêu gọi các chuyên gia chỉ chia sẻ kiến thức của họ khi cấu trúc quyền lực bị đe dọa. Nhưng các ân sủng của Chúa Thánh Thần có mục đích xây dựng toàn thể Thân thể bằng cách thúc đẩy lợi ích chung, chứ không phải để nâng đỡ sự nghiệp và tham vọng của Hêrôđê và nhiều bè lũ của ông ta.
c/ Yếu tố thứ ba. Từ các thượng tế và kinh sư, Hêrôđê và các nhà thông thái biết rằng Đấng Kitô sẽ sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđêa, như đã chép trong sách ngôn sứ Mikha (5:2). Các nhà thông thái đã hành động ngay lập tức dựa trên thông tin đó. Họ tiếp tục cuộc hành hương, với sự đảm bảo từ lời tiên tri, nhưng vẫn được Ngôi Sao dẫn đường. Khi đến nơi Vua Hài Nhi, họ vui mừng, thờ lạy Người và dâng Người những lễ vật xứng đáng với một Vua Messiah sẽ chịu đau khổ. Chính các nhà thông thái đã trở thành tiên tri. Sự học hỏi và nỗ lực của họ đã đạt đến đỉnh cao nơi Chúa Giêsu. Qua sự thờ phượng và tôn kính, họ khẳng định rằng Chúa Giêsu là món quà của Thiên Chúa dành cho muôn dân. Người là niềm vui và sự an ủi của Thiên Chúa dành cho tất cả. Người chào đón tất cả. Các nhà thông thái có thể làm chứng cho vòng tay rộng mở của Vị Vua mới.
Còn Hêrôđê thì sao? Chắc hẳn Hêrôđê đã vô cùng kinh ngạc khi biết rằng thực ra một vị Vua mới của dân Do Thái đã chào đời. Có lẽ cũng kinh ngạc không kém khi biết Ngài sinh ra tại Bêlem, chứ không phải tại Giêrusalem hoàng gia! Thay vì hân hoan đón nhận lời tiên tri ứng nghiệm, Hêrôđê và Giêrusalem lại trở nên bối rối. Giờ đây, mối đe dọa đối với vị trí trung tâm và trọng tâm của họ đã hiện hữu. Vì vậy, Hêrôđê đã vạch ra một chiến lược nhằm lôi kéo các nhà thông thái vào cuộc, coi họ là nguồn xác minh sự tồn tại của vị vua trẻ ở Bêlem. Nhưng ý định của ông ta rất rõ ràng: giết chết vị vua mới. Sự bất an, lo lắng và sợ hãi của Hêrôđê đã tạo nên một cộng đồng những kẻ đồng lõa trong cái chết của trẻ sơ sinh và các bé trai ở Bêlem và các làng mạc lân cận. Lòng mẹ của các em cũng tan nát trước cái chết tàn khốc mà các con trai họ phải gánh chịu. Mục đích của tất cả những điều này là để Hêrôđê duy trì quyền lực của mình trên Vương quốc, Giêrusalem. Ngay cả trong thế giới hiện đại, sự tuyệt vọng hay đường cùng cũng dẫn con người đến việc giết hại ngay cả những người vô tội, trẻ em, bà mẹ và làng mạc. Mạng xã hội và công nghệ số, vốn có tiềm năng to lớn cho giáo dục, hiệp thông và chuyển hóa xã hội, đang bị những kẻ tuyệt vọng lợi dụng để hủy hoại danh tiếng của người khác, đánh cắp danh tính, lan truyền sự dối trá, gieo rắc hỗn loạn và thúc đẩy lợi ích cá nhân. Những kẻ tuyệt vọng thì không vui vẻ. Họ không lan tỏa niềm vui và sẽ không chấp nhận niềm vui nơi người khác. Chúng tôi mời gọi Hêrôđê và bè lũ đồng bọn đương thời của ông ta: hãy rời khỏi Giêrusalem ảo tưởng của các người. Có rất nhiều sự khôn ngoan và niềm vui ở Bêlem nghèo khó mà các người đã phớt lờ hoặc thậm chí khinh miệt.
Bây giờ tôi xin kết thúc bằng một câu hỏi: Có bao nhiêu nhà thông thái? Chúng ta thường nói là ba. Nhưng Phúc âm Matthêu không nói như vậy. Có ba món quà. Có thể chỉ có hai nhà thông thái. Nhưng tôi thực sự nghĩ rằng có nhiều hơn ba nhà thông thái. Tôi mơ ước rằng trong mỗi thời đại sẽ có hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu và vô số nhà thông thái, bao gồm cả chính các đại biểu ở đây và các cộng đồng mà chúng ta phục vụ, đông đảo như sao trên trời! Chúng ta cần nhiều nhà thông thái hơn, và ít những người hành hương như Hêrôđê hơn, trên thế giới này.
Vài tháng trước, tôi tham dự một sự kiện liên tôn ở một quốc gia mà tôi sẽ không nêu tên. Hầu hết những người tham dự đều được bố trí ở một khách sạn lớn. Sáng ngày thứ hai, ban tổ chức thông báo rằng tôi sẽ là thành viên của một phái đoàn đến gặp nguyên thủ quốc gia tại dinh tổng thống, và tôi cần có mặt tại sảnh vào một giờ nhất định để được xe riêng đón. Bị bất ngờ, tôi vội vã chuẩn bị trong phòng và chạy xuống sảnh. Trong lúc vội vã, tôi rẽ nhầm hết đường này đến đường khác. Cảm giác như mình đang đi xa dần sảnh. Rồi khi đang rảo bước trên một hành lang có nhiều cửa hàng, tôi nghe thấy giọng một người phụ nữ: “Ôi trời ơi! Ôi trời ơi!” Giọng bà ấy nghe có vẻ đau đớn, nên tôi dừng lại, quay về phía giọng nói của bà ấy và hỏi: “Bà có sao không?”. Bà ấy nhìn tôi và nói: “Ôi trời ơi. Có phải ngài không? Đức Hồng y Tagle à?”. Lúc này, tôi đã sợ hãi và nói: “Vâng. Tôi đang tìm sảnh.” Cô ấy nói, “Ôi trời. Con chỉ thấy Đức Hồng y trên YouTube. Bây giờ tôi thấy Đức Hồng y ngoài đời! Do công việc, con không thể đi lễ mỗi Chúa nhật. Nhưng con xem và nghe các bài suy niệm của Đức Hồng y về các bài đọc để giúp con cầu nguyện. Cảm ơn Đức Hồng y. Đức Hồng y có thể ban phép lành cho con không?” Tôi đồng ý. Cô ấy đến từ Philippines. Cô ấy khóc rất nhiều khi tôi cầu nguyện cho cô ấy. Khi cầu nguyện xong, cô ấy nói, “Con có thể chụp ảnh với Đức Hồng y được không?” Tôi đồng ý. Sau đó, cô ấy nói thêm, “Con có thể gọi người phụ nữ kia từ Philippines để Đức Hồng y cũng có thể ban phép lành cho cô ấy không?” Được rồi. Trong khi điều này đang diễn ra, tôi nhận ra rằng tôi đã không bị lạc. Chúa Giêsu đã dẫn tôi đến con đường này. Tôi đã gặp Ngài trong hai người phụ nữ vĩ đại đó, những người lao động di cư của sự kiên trì và hy vọng. Thực tế, tôi đã quên chuyến thăm nguyên thủ quốc gia. Một con đường khác đã được mở ra.
Tôi đã nói trước đó rằng câu chuyện về các nhà thông thái về cơ bản là câu chuyện về Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã đi một con đường khác. Chính Chúa Giêsu đã dẫn dắt các nhà thông thái đi một con đường khác. Chúa Giêsu đã chọn một con đường khác với con đường của Hêrôđê. Ngài, Con Thiên Chúa, đã hạ mình xuống để ôm lấy sự yếu đuối của con người. Ngài sinh ra làm vua như một đứa trẻ nghèo trong máng cỏ. Ngài là một vị Thầy không có chỗ gối đầu. Ngài đã chọn những môn đồ mà không được bất kỳ giáo sĩ Do Thái nào chấp nhận. Ngài dạy sự thật nhưng lại là đối tượng tấn công của những lời dối trá và lời chứng gian. Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá và bị buộc tội là một vị vua mạo danh. Ngài tiếp tục sống giữa những người đói khát, vô gia cư, tù nhân, khách lạ. Vâng, Ngài đã chọn một con đường khác. Nhưng hãy nhớ rằng, Ngài là Đường đi, Sự thật và Sự sống. Ngài là Ngôi sao sáng. Ngài là cùng đích của chúng ta. Ngài là hy vọng của chúng ta! Hãy đến và tham gia cuộc hành hương của Chúa Giêsu!
Lm. Micae Nguyễn Khắc Minh
Chuyển ngữ từ: dominusest.ph
Để lại một phản hồi