Người giáo dân và cuộc tranh luận quanh việc cho phép người ly dị tái hôn rước lễ (2)

Với việc công khai hóa bức thư của 4 vị Hồng Y gửi Đức Phanxicô để bày tỏ 5 điều hoài nghi về Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Niềm Vui Yêu Thương và các “đe dọa” sẽ chính thức “sửa sai huynh đệ” hoặc có thể tước mũ Hồng Y, nhiều người cho rằng Giáo Hội đang trải qua một cuộc khủng hoảng thực sự. Và cuộc khủng hoảng này không thua gì cuộc khủng hoảng Ariô thế kỷ thứ tư.

Amoris-Laetitia.jpg

3. Song hành giữa lạc giáo Ariô và Niềm Vui Yêu Thương

Cũng ngay trong tháng Tư, Claudio Pierantoni, một giáo dân giáo sư từng dạy môn sử Giáo Hội và giáo phụ học tại Pontificia Universidad Católica và hiện dạy môn triết học trung cổ tại Universidad của Chile, lên tiếng so sánh giữa cuộc khủng hoảng Ariô và tông huấn Niềm Vui Yêu Thương, qua hai kiểu nói mơ hồ “giống như Chúa Cha” (Ariô) và “trong một số trường hợp” của ghi chú 351 trong Niềm Vui Yêu Thương. Cả hai đều phát xuất từ cùng một ý hướng: cố tình mơ hồ.

Hồi ấy, phe Ariô cố tình không muốn minh nhiên chủ trương rằng Chúa Con kém Chúa Cha, nên họ đã dùng kiểu nói “giống như Chúa Cha” để ai muốn hiểu thế nào thì hiểu nhưng chắc chắn có hàm một mức độ “bề dưới”.

Pierantoni cho rằng chương 8 của Niềm Vui Yêu Thương cũng đã áp dụng cùng một chiến thuật khi dùng kiểu nói “trong một số trường hợp” những người trong các tình huống gọi là “bất hợp lệ” có thể được “sự trợ giúp của các bí tích”. Ông tự hỏi, đây là những trường hợp nào? Và ông đưa ra 4 giả thuyết để lần lượt bác bỏ:

a. Theo nguyên tắc của lối giải thích liên tục (hermeneutic of continuity), kiểu nói “trong một số trường hợp” cần được giải thích như để nói tới các trường hợp chuyên biệt đã được nhắc tới trong các văn kiện hiện đã có của Huấn Quyền, như “Familiaris consortio” (FC), là văn kiện quả quyết rằng có thể ban việc giải tội và rước lễ cho những người đang sống chung với nhau nhưng đoan hứa sẽ sống chung với nhau như anh trai em gái.

Lối giải thích trên dựa trên một nguyên tắc giải thích căn bản, xem ra không thể bác bỏ được; nhưng chẳng may, nó mâu thuẫn với ghi chú số 329, là ghi chú minh nhiên quả quyết rằng tác phong này (tức việc sống chung như anh trai em gái) có thể gây hại và do đó, nên tránh.

b. “Trong một số trường hợp” có thể được giải thích theo một nghĩa rộng hơn, để chỉ việc chủ quan biết chắc tính vô hiệu của cuộc hôn nhân trước, với gải thuyết cho rằng, vì nhiều lý do riêng biệt, không thể chứng minh điều này trước tòa án.

Trong những trường hợp như trên, rất có thể có việc này: ở cõi sâu kín của lương tâm, người ta cảm thấy không có lỗi gì trong cuộc kết hợp mới cả: Về phương diện học lý luân lý, việc này có thể được coi là phù hợp với Familiaris Consortio. Nhưng vẫn còn một khác biệt nền tảng về phương diện Giáo Hội học: Thánh Thể là một hành vi bí tích, công cộng, trong đó, người ta không thể xem xét một thực tại vốn tự tại vô hình và không thể kiểm chứng cách công khai được.

c. “Trong một số trường hợp” cũng có thể giải thích một cách rộng rãi hơn nữa để chỉ trách nhiệm chủ quan giảm khinh hoặc thậm chí triệt tiêu nữa, vì ngu dốt không biết luật, thiếu khả năng thấu hiểu luật hoặc “sức mạnh lấn át” (force majeure) mà trong những hoàn cảnh đặc biệt, mạnh đến nỗi “buộc” người ta phải sống chung “more uxorio” (kiểu vợ chồng), một việc do đó, không còn tạo ra tội trọng nữa; thực vậy, theo văn kiện, việc bỏ không sống chung nữa có thể tạo ra một lỗi nặng hơn.

Ở đây, ta gặp các vấn đề còn trầm trọng hơn nữa về thần học luân lý. Ngu dốt và thiếu khả năng hiểu biết quả thực có khả năng giới hạn trách nhiệm bản thân: ấy thế nhưng nại đến chúng trong trường hợp này là điều phi lý, chưa kể là mâu thuẫn nữa. Vì văn kiện vốn nhấn mạnh tới một diễn trình và việc biện phân có hướng dẫn. Các diễn trình này hẳn phải chuyên biệt thiết kế sao đó để khắc phục sự ngu dốt và thiếu khả năng hiểu luật lệ.

Còn về “sức mạnh lấn áp”, chắc chắn sẽ không hiển nhiên, mà còn mâu thuẫn với toàn bộ thánh truyền, và các tuyên bố có tính tín điều chính yếu khi cho rằng nó có thể biện minh cho việc thất bại, không tuân theo luật Thiên Chúa. Đã đành ta không nên tiên thiên loại bỏ điều này: có những hoàn cảnh đặc biệt trong đó tình huống có thể thay đổi hình sắc luân lý (moral species) của một hành vi mà bề ngoài xem ra vẫn là một, thậm chí một cách có ý thức và ý hướng: thí dụ, hành vi rời một đồ vật khỏi một ai đó có thể được giải thích không phải là một việc ăn cắp, mà là một việc giúp người này trong một vụ cấp cứu, hay như một hành vi ngăn ngừa một điều xấu hơn. Tuy nhiên, dù cho rằng điều này có thể áp dụng vào việc ngoại tình, ngăn trở dứt khoát đối với việc biện minh kiểu này là đặc điểm vĩnh viễn của tác phong tiêu cực khách quan, một tác phong dù có thể biện minh được trong một khoảnh khắc đặc biệt nào đó, vẫn không thể biện minh trong một tình huống ổn định, được chọn lựa một cách hữu thức.

Dù sao, tính thành sự vẫn luôn cần được tôn trọng, như trong trường hợp nguyên tắc Giáo Hội học đã nói trước đây rằng dưới bất cứ hoàn cảnh nào, một điều, từ bản chất của nó, vốn thuộc cõi sâu nhiệm của lương tâm, cũng không thể trở thành hữu hình một cách ma thuật ở bình diện công cộng được.

d. Theo một nghĩa rộng rãi nhất, “trong một số trường hợp” có thể mở rộng để bao gồm mọi trường hợp có thật, cụ thể và thường xuyên mà một cách tổng quát ta vẫn có trong đầu, trong đó có một cuộc hôn nhân không có hạnh phúc, thất bại do hàng loạt các hiểu lầm và bất tương hợp và sau đó là một cuộc sống chung hạnh phúc ổn định với thời gian, trung thành hỗ tương v.v… (xem NVYT số 298).

Trong những trường hợp như trên, xem ra kết quả thực tế, đặc biệt là khoảng thời gian kéo dài và hạnh phúc của cuộc kết hợp mới so với thời gian vắn vỏi và/hoặc sự bất hạnh của cuộc kết hợp trước, đã được giải thích như một thứ xác nhận tính tốt lành, và do đó, tính hợp pháp của cuộc kết hợp mới: trong đồng văn này (NVYT số 298), không hề có bóng dáng nào của việc xem xét tới tính thành sự của cuộc hôn nhân trước, việc thiếu khả năng hiểu biết hay “sức mạnh lấn át”. Thực vậy, ở số 300, khi nói phải xem xét tới việc biện phân trong các trường hợp này, người ta lại càng thấy rõ hơn: các vấn đề được thảo luận trong việc xét lương tâm và sự ăn năn liên hệ không là gì khác hơn là tác phong tốt hay xấu trước cuộc hôn nhân không thành công và thành quả tốt của cuộc kết hợp mới.

Điều cũng rõ là “sự ăn năn”, hết sức có liên hệ ở đây, không hề liên quan tới cuộc kết hợp mới, mà liên hệ tới a) tác phong trong cuộc khủng hoảng trước đây, b) các hậu quả của cuộc kết hợp mới đối với gia đình và cộng đồng.

Bởi thế, điều hiển nhiên là văn kiện có ý hướng muốn vượt quá các trường hợp trong đó có sự chủ quan chắc chắn về tính bất thành sự của cuộc hôn nhân trước, ngu dốt, thiếu hiểu biết, “sức mạnh lấn át” hay bất lực cho rằng mình không thể tuân theo lề luật được.

Thành thử, nay ta thấy rõ: điểm chuẩn có giá rị để phán định tính “hợp pháp” của cuộc kết hợp mới chung cục chỉ là sự thành công thực tế và hạnh phúc trông thấy của nó, ngược với việc thiếu thành công và bất hạnh của cuộc hôn nhân trước: “tính hợp pháp” giả định này hiển nhiên là điều kiện tiên quyết để được lãnh nhận ơn tha tội và Thánh Thể. Hậu quả không thể tránh được là cuộc hôn nhân trước nay bị coi một cách mặc nhiên, nhưng công khai là không còn hiệu lực và do đó bị tiêu hủy: do đó, thực tế là nhờ thứ “chăm sóc mục vụ” này, cuộc hôn nhân được tuyên bố là khả tiêu. Cũng do đó, dù Giáo Hội Công Giáo vẫn tiếp tục dùng lời quả quyết tính bất khả tiêu của nó, nhưng trên thực tế, ly dị đã được du nhập.

Pierantoni nhận định như sau về “đề xuất” hay “lối giải thích” nói trên: “Điều cũng rõ là nếu sự thành công của cuộc hôn nhân mới đủ để thiết lập ra tính hợp pháp của nó, thì ta cũng phải biện minh cho hầu hết mọi cuộc kết hợp mới: thực vậy, nếu cuộc kết hợp mới bị coi là không thành công, thì đâu cần phải mất công biện minh cho nó, người ta có thể thực hiện cuộc kết hợp tiếp theo, hy vọng nó sẽ thành công. Và cứ như thế thì đâu có khác gì với luận lý học ly dị!”.

Đối với Pierantoni, các điểm sau đây đáng lo ngại hơn cả:

– công khai không đòi những người sống chung phải tiết dục mới được lãnh nhận các bí tích như “Familiaris Consortio” đòi hỏi;
– loại bỏ các biên giới trước đây đã định rõ giữa sự chắc chắn của lương tâm và các qui định của Giáo Hội học về bí tích;
– sử dụng các giới điều thương xót và không phê phán của Tin Mừng để biện minh cho chủ trương: trong Giáo Hội, không thể áp đặt việc kiểm trừng tổng quát lên các tác phong chuyên biệt, bất hợp pháp về phương diện khách quan.

4. Bác bỏ các tuyên bố có thể bị hiểu theo nghĩa đi ngược lại đức tin và luân lý Công Giáo

Qua tháng Sáu, một nhóm 45 học giả Công Giáo gửi một lá thư cho mọi Hồng Y, yêu cầu các ngài thưa với Đức Giáo Hoàng bác bỏ điều họ gọi là “một số lời tuyên bố có thể bị hiểu theo nghĩa đi ngược lại đức tin và luân lý Công Giáo”.

Lá thư dài 13 trang này, được dịch sang sáu ngôn ngữ, trưng dẫn 19 đoạn của Niềm Vui Yêu Thương mà họ cho “dường như trái ngược với các tín lý Công Giáo”. Các người ký thự gồm các giáo phẩm, học giả, giáo sư, tác giả và giáo sĩ của nhiều đại học Giáo Hoàng, chủng viện, cao đẳng, viện thần học, dòng tu và giáo phận khắp thế giới.

Phát ngôn viên của nhóm là Joseph Shaw, một giáo dân và là một giáo sư triết tại Đại Học Oxford. Ông quả quyết: “chúng tôi không kết án Đức Giáo Hoàng lạc giáo, nhưng chúng tôi coi khá nhiều đề xuất trong Niềm Vui Yêu Thương có thể bị hiểu là lạc giáo theo lối đọc bản văn cách tự nhiên. Nhiều tuyên bố khác có thể rơi vào các kiểm trừng thần học (theological censures) lâu đời khác, như gây tai tiếng, sai lạc về đức tin, và mơ hồ…”.

Trong số các vấn đề được nêu lên, nhóm tin rằng Niềm Vui Yêu Thương “làm suy yếu” giáo huấn của Giáo Hội khi cho phép các người Công Giáo ly dị và tái hôn dân sự được chịu các bí tích. Họ cũng tin rằng việc này mâu thuẫn với giáo huấn của Giáo Hội vốn dạy rằng mọi giới răn có thể được tuân giữ với ơn thánh của Thiên Chúa, và một số hành vi luôn luôn sai lầm.

Theo Ông Shaw, các người ký thự hy vọng rằng “tìm được từ Đức Thánh Cha một bác bỏ dứt khoát các sai lầm trên, chúng tôi có thể giúp giảm bớt đi sự mơ hồ mà Niềm Vui Yêu Thương đã gây ra nơi các mục tử và tín hữu giáo dân”.

Sự mơ hồ trên, theo Ông Shaw, “chỉ có thể được đánh tan một cách hữu hiệu, nhờ một khẳng định không hàm hồ về giáo huấn Công Giáo chân chính của vị kế nhiệm Thánh Phêrô”.

Nội dung lá thư và tên những người ký thự thoạt đầu không được công bố. Theo Giáo Sư Shaw, các người ký thự cho công chúng hay sự hiện hữu của lá thư để “những người Công Giáo nào bối rối về một số câu tuyên bố trong Niềm Vui Yêu Thương biết rằng đang có các biện pháp để giải quyết các vấn đề nó nêu ra”.

Ông nói với LifeSiteNews rằng “các người tổ chức không muốn công bố các tài liệu này, vì chúng được gửi cho các vị Hồng Y và thượng phụ, những vị hết sức lý tưởng có tư cách xem xét chúng mà không sợ bị cuộc tranh luận công cộng quấy rầy”.

Hơn nữa “các kiểm trừng là một tài liệu thần học chi tiết và có tính kỹ thuật có nội dung không sẵn sàng dễ hiểu đối với những người đọc không chuyên môn, và dễ bị trình bầy sai và hiểu sai. Công bố các tài liệu này sẽ gây trở ngại cho các vị Hồng Y trong nhiệm vụ của các vị qua việc tường thuật của truyền thông và những cuộc tranh luận và bút chiến thường kém hiểu biết do nó tạo ra”.

Nhưng rồi ngày 18 tháng Bẩy, tờ Catholic Herald cho hay đã nhận được một bản của lá thư và tên các người ký thự. Tờ này bèn cho phổ biến nhiều chi tiết hơn nữa về lá thư, nhưng không đăng trọn lá thư này cũng như tên các người ký thự. Bốn ngày sau, tờ National Catholic Reporter cho đăng trọn danh sách các người ký thự. Và qua ngày 27 tháng Bẩy, Tess Livingstone cho đăng trọn tài liệu và tên các người ký thự trên trang mạng của tờ The Australian ở Úc. Cô vốn là người viết tiểu sử của Đức Hồng Y Pell nhưng cô không cho hay do đâu cô có được tài liệu này.

Giáo Sư Shaw quả quyết rằng các cơ quan trên không hề được phép đăng tải như họ đã làm. Trước tình thế này, ông cho hay: “Việc phê bình là công việc của một số học giả Công Giáo; họ lo âu rằng người Công Giáo có thể hiểu một số đoạn trong Niềm Vui Yêu Thương như đi ngược lại tín lý của đức tin Công Gáo. Chữa trị sự nguy hiểm này là tuyên bố có thẩm quyền và chung cục của Đức Giáo Hoàng nhằm quả quyết rằng các lối hiểu này không thể được người Công Giáo chủ trương, và Niềm Vui Yêu Thương không hề trình bầy chúng như các giáo huấn của huấn quyền hay buộc phải tin chúng. Hồng Y Đoàn có chức năng cố vấn Đức Giáo Hoàng… Thành thử, một tài liệu đã được soạn thảo trình bầy các nguy hiểm trầm trọng nhất của bản văn Niềm Vui Yêu Thương và gửi tới các vị Hồng Y và thượng phụ, cùng với một lá thư yêu cầu các vị thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng lên án các sai lầm có vấn đề”.

Nhân cơ hội này, Ông cũng giải thích bản chất của kiểm trừng thần học: “nó chỉ có tính học lý chứ không có tính pháp lý, vì các người ký thự không hề có thẩm quyền để áp đặt bất cứ kiểm trừng pháp lý nào. Họ không nghi vấn đức tin bản thân của Đức Giáo Hoàng Phanxicô hay cho rằng ngài đồng thuận với các đề xuất bị kiểm trừng… Mục đích của tài liệu này là để nhận được lời kết án các đề xuất này của Đức Giáo Hoàng”.

5. Quyền của tín hữu Công Giáo

Lá thư của nhóm 45 học giả trích giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô rằng “bề dưới buộc phải sửa sai các bề trên của mình một cách công khai khi có nguy hiểm cận kề cho đức tin”. Họ cũng trưng dẫn bộ giáo luật dành cho Giáo Hội La Tinh rằng “các tín hữu Công Giáo có quyền và đôi khi nghĩa vụ, phù hợp với kiến thức, năng quyền, và vị thế của mình, phải làm người khác biết các quan điểm của mình về các vấn đề có liên quan tới lợi ích của Giáo Hội”.

Thành thử, ở phần kết luận, họ quả quyết: “các nhà thần học Công Giáo có nghịa vụ nghiêm ngặt phải lên tiếng chống lại các sai lầm biều kiến trong văn kiện. Tuyên bố về Niềm Vui Yêu Thương này nhằm chu toàn nghĩa vụ ấy, và nhằm trợ giúp hàng giáo phẩm của Giáo Hội trong việc giải quyết tình thế này”.

Đi vào chi tiết, tài liệu của nhóm coi là đi ngược lại Thánh Kinh các tuyên bố cho rằng Giáo Hội “cương quyết” bác bỏ án tử hình, coi nó luôn luôn bất chính, người vợ không nên phục tùng chồng, và bậc sống đồng trinh không cao hơn bậc sống vợ chồng.

Dựa vào Thánh Kinh và một số giáo huấn có thẩm quyền của Giáo Hội, nhất là Công Đồng Trent, nhóm cũng kết án các gợi ý sau đây của Niềm Vui Yêu Thương:

• Đối với một số người, sống phù hợp với các giáo huấn của Tin Mừng có thể là điều không thể làm được
• Không ai bị phạt sa hỏa ngục cả
• “Những người ly dị và tái hôn dân sự nào quyết định chọn tình huống của họ một cach hiểu biết hoàn toàn và với sự thuận tình trọn vẹn của ý chí không sống trong trạng thái tội trọng, và họ có thể lãnh nhận ơn thánh hóa và lớn lên trong đức ái”
• “Một tín hữu Công Giáo có thể hoàn toàn biết rõ luật Thiên Chúa và tự ý phá bỏ nó trong một vấn đề nghiêm trọng, nhưng vẫn không rơi vào trạng thái tội trọng do kết quả của hành động này”
• “Một người hoàn toàn biết rõ luật Thiên Chúa vẫn có thể phạm tội khi quyết định vâng theo luật này”
• Lương tâm một người có thể “phán đoán đúng” rằng các tội tình dục bị Tin Mừng minh nhiên kết án “đôi khi có thể đúng về phương diện luân lý hay được Thiên Chúa yêu cầu hay ra lệnh”
• “Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, muốn rằng Giáo Hội bãi bỏ kỷ luật lâu đời từ chối không cho những người ly dị tái hôn rước lễ hay không giải tội cho họ nếu họ không biểu lộ sự ăn năn thống hối về lối sống của mình và cương quyết sửa sai lối sống này”
• “Không có lỗi nặng vì trách nhiệm giảm bớt, những người ly dị và tái hôn dân sự không sống tách xa nhau, cũng không cam kết sống tiết dục hoàn toàn, nhưng vẫn ở lại trong trạng thái ngoại tình và đa hôn khách quan có thể được rước lễ”.

Tuy nhiên, nhóm vẫn cho rằng: “vấn đề của Niềm Vui Yêu Thương không phải là nó đã áp đặt các qui luật có tính trói buộc về luật pháp từ nội tại vốn bất chính hay giảng dạy một cách có thẩm quyền các giáo huấn có tính trói buộc mà bản chất thì sai lầm”.

Theo nhóm, “văn kiện này không có thẩm quyền ban hành các luật lệ bất chính hay đòi phải chấp thuận các giáo huấn sai lầm, vì Đức Giáo Hoàng không có quyền làm những điều này. Vấn đề của văn kiện này là nó có thể dẫn người Công Giáo đến chỗ tin điều sai lầm và làm điều bị luật Thiên Chúa ngăn cấm… Điều quan trọng về văn kiện này là hậu quả gây hại nó có thể có đối với niềm tin và đời sống luân lý của người Công Giáo”.

Vũ Văn An

Kỳ sau: 6. Đức Giáo Hoàng có ý định thay đổi kỷ luật bí tích